Ngôn ngữ:
Trang chủ » Tin tức » Kinh tế- Xã hội – Thị trường
Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2017
Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ năm 2016[4], nhưng cao hơn mức tăng 4,2% của quý I năm nay.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung vào chăm sóc cây trồng vụ đông xuân ở các địa phương phía Bắc; thu hoạch lúa, hoa màu vụ đông xuân và gieo trồng lúa hè thu ở các địa phương phía Nam. Tính đến ngày 15/4, cả nước đã gieo cấy được 3.073 nghìn ha lúa đông xuân, tương đương cùng kỳ năm 2016. Các địa phương phía Bắc đến nay cơ bản kết thúc gieo cấy với diện tích đạt 1.144,1 nghìn ha, bằng 99,7% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt 540,8 nghìn ha, bằng 99,2% do một số địa phương chuyển một phần diện tích trồng lúa sang xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị mới hoặc trồng cây ăn quả và nuôi thủy sản có hiệu quả kinh tế cao hơn. Một số địa phương có diện tích lúa đông xuân giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Hà Nội giảm 2.139 ha[1]; Hải Dương giảm 1.000 ha[2]; Thái Bình giảm 195 ha. Các địa phương phía Nam gieo cấy được 1.928,9 nghìn ha, bằng 100,2% cùng kỳ năm 2016. Hiện nay thời tiết tương đối thuận lợi, đủ nguồn nước tưới, lúa đông xuân sinh trưởng và phát triển tốt.
Đến trung tuần tháng Tư, các địa phương phía Nam đã thu hoạch được 1.571 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm hơn 81% diện tích xuống giống và bằng 99,1% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.418,5 nghìn ha, chiếm 92,2% diện tích gieo cấy và bằng 99,5%. Dự kiến đến hết tháng Tư, vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch xong lúa đông xuân, các vùng còn lại sẽ tiếp tục thu hoạch trong tháng Năm. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay ước tính đạt 63,5 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng ước tính đạt 9,8 triệu tấn, giảm 220 nghìn tấn. Một số địa phương có sản lượng lúa đông xuân giảm nhiều so với vụ đông xuân năm 2016: Đồng Tháp giảm 104 nghìn tấn; Cần Thơ giảm 59 nghìn tấn; Kiên Giang giảm 50 nghìn tấn; Tiền Giang giảm 32 nghìn tấn.
Trên những diện tích lúa đông xuân đã thu hoạch, các địa phương tranh thủ vệ sinh đồng ruộng, cày ải, phơi đất để xuống giống vụ hè thu. Tính đến ngày 15/4, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 615,6 nghìn ha lúa hè thu, bằng 94,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 604,3 nghìn ha, bằng 96,2% chủ yếu do ảnh hưởng của tiến độ thu hoạch vụ đông xuân ở một số vùng chậm hơn cùng kỳ. Dự báo vụ hè thu năm nay còn gặp khó khăn do thời tiết nắng nóng kéo dài nên ngành nông nghiệp cần quản lý chặt chẽ lịch thời vụ xuống giống, đồng thời đảm bảo nguồn nước tưới và theo dõi sát diễn biến tình hình sâu bệnh.
Đáng lưu ý, hiện tượng sâu bệnh diễn ra trên diện rộng tại nhiều địa phương. Tính đến trung tuần tháng Tư, cả nước có 77,8 nghìn ha lúa bị nhiễm sâu bệnh, trong đó 20,3 nghìn ha bị bệnh đạo ôn lá; 14 nghìn ha bị rầy nâu; 3,4 nghìn ha bị đạo ôn cổ bông. Theo báo cáo sơ bộ, diện tích lúa bị nhiễm sâu bệnh tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ là 21,9 nghìn ha, trong đó Nghệ An 9,5 nghìn ha; vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 39,3 nghìn ha, trong đó Bạc Liêu 21 nghìn ha; Đồng Tháp 8,3 nghìn ha; Long An 5,8 nghìn ha. Các địa phương cần chủ động theo dõi và nắm bắt tình hình để kịp thời đưa ra các biện pháp phòng chống sâu bệnh hiệu quả.
Tính đến giữa tháng Tư, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 442,8 nghìn ha ngô, bằng 100,7% cùng kỳ năm trước; 71,8 nghìn ha khoai lang, bằng 95,4%; 138,1 nghìn ha lạc, bằng 99,1%; 29,3 nghìn ha đậu tương, bằng 79,6%; 559,7 nghìn ha rau đậu, bằng 103,9%.
Chăn nuôi nhìn chung ổn định, không xảy ra dịch bệnh lớn. Đàn trâu trong tháng ước tính giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,3% nhờ triển khai một số dự án chăn nuôi quy mô lớn và thị trường tiêu thụ ổn định; đàn gia cầm tăng 3,1%. Chăn nuôi lợn tiếp tục gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ, giá thịt lợn hơi giảm mạnh nên người nuôi đang bị lỗ nặng. Đàn lợn cả nước trong tháng Tư giảm 0,2% so với cùng kỳ năm 2016.
Tính đến ngày 25/4/2017, cả nước không còn dịch lợn tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn ở Cao Bằng, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đắk Lắk, Quảng Ninh, Thừa Thiên - Huế.
 


Lâm nghiệp
Trong tháng Tư, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 23,5 nghìn ha, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 8,3 triệu cây, tăng 1,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 870 nghìn m3, giảm 7,5%; sản lượng củi khai thác đạt 1,6 triệu ste, tương đương cùng kỳ năm 2016. Tính chung 4 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 52 nghìn ha, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số tỉnh có diện tích đạt khá: Yên Bái đạt 7,3 nghìn ha, tăng 8%; Tuyên Quang đạt 5,2 nghìn ha, gấp 2 lần cùng kỳ năm trước; Phú Thọ đạt 4,9 nghìn ha, tăng 30%. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 24,4 triệu cây, tăng 1,7%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2.554 nghìn m3, tăng 0,6%; sản lượng củi khai thác đạt 9,4 triệu ste, tăng 1,1%.
Mặc dù công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhưng tình trạng cháy rừng và chặt phá rừng vẫn xảy ra. Trong tháng Tư, cả nước có 237,1 ha rừng bị thiệt hại, giảm 61,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 57,6 ha (riêng vụ cháy rừng tại An Giang ngày 21/4/2017 làm 34,4 ha rừng tràm bị cháy); diện tích rừng bị chặt phá là 179,5 ha. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 437,4 ha, giảm 69,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 155,3 ha, giảm 86,5%; diện tích rừng bị chặt phá là 282,1 ha, giảm 3,1%.

Thủy sản
Sản lượng thuỷ sản tháng Tư ước tính đạt 581,4 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 430 nghìn tấn, tăng 3,4%; tôm đạt 56,9 nghìn tấn, tăng 3,1%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 297,8 nghìn tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 223,6 nghìn tấn, tăng 0,9%; tôm đạt 40 nghìn tấn, tăng 5%.
Nuôi cá tra tuy cải thiện hơn về giá[3] nhưng nguồn cung vẫn thiếu hụt do nhiều diện tích đến nay chưa cho thu hoạch. Sản lượng cá tra trong tháng ước tính đạt 103,4 nghìn tấn, giảm 1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 34,7 nghìn tấn, tăng 0,2%; Cần Thơ đạt 16,1 nghìn tấn, giảm 14,6%; An Giang đạt 12,4 nghìn tấn, giảm 22,5%; Bến Tre đạt 9,7 nghìn tấn, giảm 0,2%.
Nuôi tôm những tháng đầu năm khá thuận lợi, giá tôm ở mức cao và ổn định đã khuyến khích người dân tại một số địa phương như Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu chuyển đổi diện tích từ trồng lúa sang nuôi tôm. Sản lượng tôm sú tháng Tư ước tính đạt 17,4 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Cà Mau đạt 7,2 nghìn tấn, tăng 2,9%; Bạc Liêu đạt 4,3 nghìn tấn, tăng 6%; Tiền Giang đạt 1,3 nghìn tấn, tăng 6,7%. Sản lượng tôm thẻ chân trắng ước tính đạt 20,5 nghìn tấn, tăng 7,9% so cùng kỳ, trong đó Sóc Trăng đạt 3,3 nghìn tấn, tăng 143,2%; Trà Vinh đạt 1 nghìn tấn, tăng 12,9%.
Thời tiết trong tháng tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản, ngư dân các tỉnh ven biển đang bước vào khai thác vụ cá Nam. Sản lượng thủy sản khai thác tháng Tư ước tính đạt 283,6 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 270,3 nghìn tấn, tăng 5,5% (sản lượng cá ngừ đại dương đạt 4,7 nghìn tấn, tăng 6,8%).
Tính chung 4 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 1.902,2 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 864,5 nghìn tấn, tăng 2%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1.037,7 nghìn tấn, tăng 4,1% (sản lượng khai thác biển đạt 990,3 nghìn tấn, tăng 4,2%).

Sản xuất công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tư ước tính tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 5,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,5%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ năm 2016[4], nhưng cao hơn mức tăng 4,2% của quý I năm nay. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,2%, đóng góp 6,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 9,7%, làm giảm 2,1 điểm phần trăm mức tăng chung.
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 47,5%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,3%; dệt tăng 12,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,9%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 10,7%; sản xuất đồ uống tăng 10,3%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 4,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 1,5%; khai thác than cứng và than non tăng 0,8%; sản xuất thuốc lá tăng 0,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 12,9%.
Trong 4 tháng đầu năm, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 42%; sắt thép thô tăng 30,1%; thép cán tăng 29,3%; phân ure tăng 23,9%; thức ăn cho gia súc và sơn hóa học cùng tăng 13,8%; dầu gội, dầu xả tăng 10,9%; bột ngọt tăng 10,6%; sữa tươi tăng 10,3%; bia tăng 10,1%. Một số sản phẩm có mức tăng thấp hoặc giảm: Thủy hải sản chế biến tăng 7,8%; nước máy thương phẩm tăng 7%; xi măng tăng 6,8%; thức ăn cho thủy sản tăng 5,3%; xe máy tăng 4,1%; than đá tăng 0,8%; điện thoại di động giảm 1,6%; khí đốt thiên nhiên giảm 8,4%; dầu thô khai thác giảm 14,2%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 20,4%; Thái Nguyên tăng 17,7%; Đà Nẵng tăng 12,1%; Hải Dương tăng 9%; Bình Dương tăng 8%; Đồng Nai tăng 7,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,1%; Hà Nội tăng 5,9%; Quảng Nam tăng 5,3%; Cần Thơ tăng 3,7%; Vĩnh Phúc tăng 2,6%; Quảng Ninh tăng 2,2%; Bắc Ninh tăng 1,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 4,8%.
 Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2017 tăng 15,1% so với tháng trước vàtăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm nay, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 10,2%), trong đó các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 13,4%; sản xuất kim loại tăng 9,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 9,4%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 3 tháng tăng thấp hoặc giảm: Dệt tăng 6,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 5,4%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 0,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3,8%.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thời điểm 01/4/2017 tăng 12,7% so với cùng thời điểm năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 8,9%), trong đó một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Dệt tăng 7,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,8%; sản xuất trang phục giảm 6,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 23,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 50,2%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung: Sản xuất xe có động cơ tăng 158,9%, chủ yếu do Công ty ô tô Trường Hải giảm mạnh sản lượng tiêu thụ; sản xuất kim loại tăng 54,5%; sản xuất đồ uống tăng 45,4%; sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại (chủ yếu là xi măng) tăng 39,7%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 32,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 29,9%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 23%; sản xuất thiết bị điện tăng 14,9%.
Tỷ lệ tồn kho bình quân toàn ngành chế biến, chế tạo 3 tháng đầu năm là 71,9%, trong đó một số ngành tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 111,4%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) 107,3%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất 98,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm 86,3%.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2017 tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 6%), trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,9%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 4,8% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,9%; sản xuất và phân phối điện giảm 0,4%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 1,3%.
Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Bắc Ninh tăng 14,2%; Hải Phòng tăng 13,5%; Bình Dương tăng 5,9%; Hải Dương tăng 5,8%; Vĩnh Phúc tăng 5,4%; Đà Nẵng tăng 4,3%; Thái Nguyên tăng 2,4%; Cần Thơ tăng 0,8%; Đồng Nai tăng 0,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 8,4%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp
Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp
 
Tình hình đăng ký doanh nghiệp[5]
Trong tháng Tư, cả nước có 13.102 doanh nghiệp thành lập mới (tháng có số doanh nghiệp thành lập mới nhiều nhất trong 12 tháng qua) với số vốn đăng ký là 98,4 nghìn tỷ đồng, tăng 8,9% về số doanh nghiệp và giảm 17,1% về số vốn đăng ký so với tháng trước[6]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 7,5 tỷ đồng, giảm 23,9%; tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 132,4 nghìn người, tăng 5,9%.
Trong tháng, cả nước có 2.274 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 75,7% so với tháng trước; có 6.305 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.744 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 4.561 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), tăng 37,3%; có 789 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 6%.
Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có 39.580 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 369,6 nghìn tỷ đồng, tăng 14% về số doanh nghiệp và tăng 48,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016[7]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,3 tỷ đồng, tăng 30,6%. Nếu tính cả 455,7 nghìn tỷ đồng của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 4 tháng đầu năm 2017 là 825,3 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó còn có 11.545 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 4 tháng đầu năm nay lên hơn 51 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 4 tháng là 424 nghìn người, bằng 99,2% cùng kỳ năm trước.
Các ngành, lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới và vốn đăng ký trong 4 tháng năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước: Thông tin và truyền thông tăng 237,2% về số doanh nghiệp và tăng 44,9% về số vốn đăng ký; kinh doanh bất động sản tăng 66% và tăng 49,9%; giáo dục và đào tạo tăng 30,4% và tăng 84,2%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác tăng 18,2% và tăng 145%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác tăng 16,2% và tăng 21,5%; xây dựng tăng 15,7% và tăng 54,7%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 14,9% và tăng 106,1%... Một số ngành, lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới tăng nhưng số vốn đăng ký giảm: Sản xuất và phân phối điện, nước, gas tăng 34,4% (vốn đăng ký giảm 3,2%); nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 21,8% (vốn đăng ký giảm 12,9%); hoạt động dịch vụ khác tăng 19,9% (vốn đăng ký giảm 12,4%). Riêng ngành vận tải kho bãi số doanh nghiệp thành lập mới giảm 0,2%; số vốn đăng ký giảm 13,5%.
Trong 4 tháng năm nay, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tại các vùng đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Trung du và miền núi phía Bắc đạt 1.724 doanh nghiệp, tăng 29,9% (Vốn đăng ký đạt 20.305 tỷ đồng, tăng 22,6%); Đồng bằng sông Hồng 12.028 doanh nghiệp, tăng 18,9% (Vốn đăng ký 92.018 tỷ đồng, tăng 26,3%); Tây Nguyên 1.021 doanh nghiệp, tăng 14% (Vốn đăng ký 9.881 tỷ đồng, tăng 87,3%); Đồng bằng Sông Cửu Long 2.888 doanh nghiệp, tăng 12,2% (Vốn đăng ký 24.080 tỷ đồng, tăng 35,2%); Đông Nam Bộ 16.546 doanh nghiệp, tăng 11,9% (Vốn đăng ký 170.049 tỷ đồng, tăng 52,9%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 5.373 doanh nghiệp, tăng 7,1% (Vốn đăng ký là 53.302 tỷ đồng, tăng 117,4%).
Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 4 tháng đầu năm 2017 là 4.057 doanh nghiệp, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 15,7%), trong đó 3.745 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 92,3%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, có 1.604 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 39,5%); có 1.203 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,7%); có 727 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 17,9%) và có 523 công ty cổ phần (chiếm 12,9%).
Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 4 tháng đầu năm là 27.400 doanh nghiệp, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 11.491 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 21,6% và 15.909 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 1,4%.
Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 4.691 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,8%); có 3.734 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 32,5%); có 1.923 công ty cổ phần (chiếm 16,8%); có 1.141 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 9,9%) và có 2 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 6.875 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 43,2%); có 4.637 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,1%); có 3.221 công ty cổ phần (chiếm 20,3%) và có 1.176 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 7,4%). Theo lĩnh vực hoạt động, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể của phần lớn các ngành giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 15%; nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 31,2%; sản xuất phân phối điện, nước, gas giảm 6,7%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí giảm 34,3%.
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

Đầu tư
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tư ước tính đạt 19.463,1 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 4.358 tỷ đồng; vốn địa phương 15.105,1 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 64,4 nghìn tỷ đồng, bằng 22,2% kế hoạch năm và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2016, gồm có:
- Vốn trung ương quản lý đạt 14,1 nghìn tỷ đồng, bằng 21% kế hoạch năm và tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 7.850 tỷ đồng, bằng 25,1% và tăng 47,5%; Bộ Y tế 914,5 tỷ đồng, bằng 17,8% và tăng 23,1%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 838,8 tỷ đồng, bằng 21,9% và giảm 31,9%; Bộ Xây dựng 127,5 tỷ đồng, bằng 26,4% và giảm 40,7%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 120,7 tỷ đồng, bằng 21,6% và giảm 69,1%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 109 tỷ đồng, bằng 18,8% và giảm 15,8%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 82,6 tỷ đồng, bằng 18,9% và giảm 51,8%; Bộ Công Thương 54 tỷ đồng, bằng 22,1% và giảm 44,6%; Bộ Khoa học và Công nghệ 19,1 tỷ đồng, bằng 20,9% và giảm 61,4%; Bộ Thông tin và Truyền thông 17,4 tỷ đồng, bằng 19,2% và giảm 42,2%.
- Vốn địa phương quản lý đạt 50,3 nghìn tỷ đồng, bằng 22,6% kế hoạch năm và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 35.047,2 tỷ đồng, bằng 21,3% và tăng 1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 12.597,5 tỷ đồng, bằng 25,1% và tăng 10,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 2.651,1 tỷ đồng, bằng 31,5% và tăng 8%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 7.836,2 tỷ đồng, bằng 24,2% kế hoạch năm và giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 3.952,7 tỷ đồng, bằng 11,6% và tăng 2,4%; Nghệ An 1.874,6 tỷ đồng, bằng 29% và tăng 12,1%; Vĩnh Phúc 1.651 tỷ đồng, bằng 27,5% và tăng 35,6%; Thanh Hóa 1.377,5 tỷ đồng, bằng 28,8% và tăng 4,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1.364,4 tỷ đồng, bằng 25,9% và giảm 12,6%; Bình Dương 1.290,2 tỷ đồng, bằng 18% và tăng 8,3%.
Nhìn chung, tình hình giải ngân và thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước những tháng đầu năm còn chậm. Trong thời gian tới, các bộ, ngành và địa phương cần nỗ lực tập trung thực hiện các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn theo chỉ đạo của Chính phủ. 
Về đầu tư trực tiếp của nước ngoài, từ đầu năm đến thời điểm 20/4/2017 đã thu hút 734 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 4.881,6 triệu USD[8], tăng 5,3% về số dự án và giảm 4% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 345 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4.361,2 triệu USD[9].
Trong 4 tháng đầu năm 2017 có 1.687 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 1.355,2 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 4 tháng đầu năm đạt 10.598 triệu USD, tăng 40,5% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4 tháng ước tính đạt 4,8 tỷ USD, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2016.
Trong 4 tháng đầu năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 2.581,4 triệu USD, chiếm 52,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành khai khoáng đạt 1.279 triệu USD, chiếm 26,2%; các ngành còn lại đạt 1.021,2 triệu USD, chiếm 20,9%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước và góp vốn, mua cổ phần thì tổng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 4 tháng đầu năm 2017 đạt 7.369,3 triệu USD, chiếm 69,5% tổng vốn đăng ký; ngành khai khoáng đạt 1.280,1 triệu USD, chiếm 12,1%; các ngành còn lại đạt 1.948,6 triệu USD, chiếm 18,4%.
Trong 4 tháng đầu năm, cả nước có 48 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Kiên Giang có số vốn đăng ký lớn nhất với 1.304,7 triệu USD, chiếm 26,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bình Dương 861,7 triệu USD, chiếm 17,7%; Tây Ninh 326 triệu USD, chiếm 6,7%; Bắc Giang 301 triệu USD, chiếm 6,2%; Bình Phước 282,3 triệu USD, chiếm 5,8%; thành phố Hồ Chí Minh 212,5 triệu USD, chiếm 4,4%; Đồng Nai 152,5 triệu USD, chiếm 3,1%; Bắc Ninh 142,5 triệu USD, chiếm 2,9%; Hà Nội 132,8 triệu USD, chiếm 2,7%; Nghệ An 122,7 triệu USD, chiếm 2,5%; Bà Rịa - Vũng Tàu 113,2 triệu USD, chiếm 2,3%; Hải Dương 97,6 triệu USD, chiếm 2%.
Trong số 46 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 4 tháng đầu năm, Nhật Bản là nhà đầu tư có số vốn lớn nhất với 1.521,6 triệu USD, chiếm 31,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 1.092,1 triệu USD, chiếm 22,4%; Trung Quốc 735,2 triệu USD, chiếm 15,1%; Xin-ga-po 498,9 triệu USD, chiếm 10,2%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 283,1 triệu USD, chiếm 5,8%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 128,2 triệu USD, chiếm 2,6%[10].
 
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/1 - 20/4/2017
 
Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2017 ước tính đạt 316,7 nghìn tỷ đồng, bằng 26,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 253,8 nghìn tỷ đồng, bằng 25,6%; thu từ dầu thô 13 nghìn tỷ đồng, bằng 33,9%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 49,9 nghìn tỷ đồng, bằng 27,7%. Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 29,5 nghìn tỷ đồng, bằng 46,3% dự toán năm; thu thuế thu nhập cá nhân 26,2 nghìn tỷ đồng, bằng 32,5%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 52,1 nghìn tỷ đồng, bằng 26,8%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 47,3 nghìn tỷ đồng, bằng 23,5%; thu thuế bảo vệ môi trường 9,5 nghìn tỷ đồng, bằng 21%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 49,4 nghìn tỷ đồng, bằng 17,3%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2017 ước tính đạt 336,8 nghìn tỷ đồng, bằng 24,2% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 246,7 nghìn tỷ đồng, bằng 27,5% dự toán năm; chi trả nợ lãi 31,6 nghìn tỷ đồng, bằng 32%; riêng chi đầu tư phát triển mới đạt 57,8 nghìn tỷ đồng, bằng 16,2% dự toán năm. Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2017 ước tính đạt 54 nghìn tỷ đồng, bằng 33% dự toán năm.

Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tư ước tính đạt 317,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 237,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% và tăng 10%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 39,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2% và tăng 19,8%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2% và tăng 1,8%; doanh thu dịch vụ khác đạt 38,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% và tăng 10,2%.
Tính chung 4 tháng đầu năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.267,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7% (thấp hơn mức tăng 7,8% của cùng kỳ năm 2016). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 4 tháng đầu năm ước tính đạt 955,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,4% tổng mức và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,5%; may mặc tăng 8,6%; phương tiện đi lại tăng 8,3%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,3%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 4%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 4 tháng đầu năm ước tính đạt 153,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,1% tổng mức và tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có doanh thu tăng khá: Quảng Ninh tăng 18,6%; Đồng Nai tăng 12,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,5%; Hà Nội tăng 10,5%; Bình Dương tăng 8,7%.
Doanh thu du lịch lữ hành 4 tháng ước tính đạt 10,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,6%; Hà Nội tăng 6,5%; Đà Nẵng giảm 8,9%; Cần Thơ giảm 6,1%.
Doanh thu dịch vụ khác 4 tháng đầu năm ước tính đạt 148,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% tổng mức và tăng 7% so với cùng kỳ năm 2016. Một số địa phương có doanh thu tăng khá: Bình Định tăng 14,6%; Đà Nẵng tăng 12,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,2%; Hải Phòng tăng 6,9%; Hà Nội tăng 5,1%.
 
 


Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 3/2017 đạt 17.245 triệu USD, cao hơn 945 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 392 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 190 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 79 triệu USD; sắt thép cao hơn 61 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ cao hơn 43 triệu USD; giày dép cao hơn 42 triệu USD; gạo cao hơn 41 triệu USD; thủy sản cao hơn 33 triệu USD; rau quả cao hơn 30 triệu USD.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Tư ước tính đạt 16,70 tỷ USD, giảm 3,2% so với tháng trước[11], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,60 tỷ USD, giảm 7,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 12,10 tỷ USD, giảm 1,4%. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch giảm nhiều so với tháng trước: Hàng dệt may giảm 12%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 20,1%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 11,7%; sắt thép giảm 30,9%; hạt tiêu giảm 16%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Tư năm nay tăng 16,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 9,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 19,1%. Kim ngạch một số mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 42,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 34,3%; điện thoại và linh kiện tăng 17,4%.
Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 61,3 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 17,3 tỷ USD, tăng 13,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 44,0 tỷ USD, tăng 16,1%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Hàng dệt may đạt 7,5 tỷ USD, tăng 9,1%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 7,3 tỷ USD, tăng 44,3%; giày, dép đạt 4,2 tỷ USD, tăng 9,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 4 tỷ USD, tăng 38,8%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,4 tỷ USD, tăng 14,4%; thủy sản đạt 2,1 tỷ USD, tăng 9%; cà phê đạt 1,4 tỷ USD, tăng 21,7% (lượng giảm 8,8%); rau quả đạt 1 tỷ USD, tăng 32,1%; dầu thô đạt 933 triệu USD, tăng 34,9% (lượng giảm 6,1%). Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản giảm so với cùng kỳ năm trước: Gạo đạt 823 triệu USD, giảm 8,1% (lượng giảm 8,8%); hạt tiêu đạt 467 triệu USD, giảm 16% (lượng tăng 11,2%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 416 triệu USD, giảm 1,6% (lượng tăng 2%).
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 4 tháng đầu năm, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 11,9 tỷ USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2016; tiếp đến là EU đạt 11,3 tỷ USD, tăng 8,8%; Trung Quốc đạt 8,6 tỷ USD, tăng 45,1%; ASEAN đạt 6,7 tỷ USD, tăng 26%; Nhật Bản đạt 5,2 tỷ USD, tăng 19,3%; Hàn Quốc đạt 4,4 tỷ USD, tăng 32%.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 3/2017 đạt 18.349 triệu USD, cao hơn 949 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 457 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 287 triệu USD; xăng dầu cao hơn 142 triệu USD; vải cao hơn 96 triệu USD; lúa mỳ cao hơn 69 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 44 triệu USD.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Tư ước tính đạt 17,50 tỷ USD, giảm 4,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,00 tỷ USD, giảm 3,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,50 tỷ USD, giảm 5,2%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng giảm so với tháng trước: Điện tử, máy tính và linh kiện giảm 4,6%; điện thoại và linh kiện giảm 8,2%; xăng dầu giảm 29,5%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 17,9%; phân bón giảm 15,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng Tư tăng 24,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 18%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 29,9%.
Tính chung 4 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 64,1 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 25,8 tỷ USD, tăng 24,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 38,3 tỷ USD, tăng 25,3%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 11,3 tỷ USD, tăng 38,9%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 10,5 tỷ USD, tăng 24,7%; điện thoại và linh kiện đạt 4 tỷ USD, tăng 22,2%; sắt thép đạt 3,3 tỷ USD, tăng 45,4%; chất dẻo đạt 2,4 tỷ USD, tăng 32,2%; xăng dầu đạt 2,1 tỷ USD, tăng 45,1% (lượng giảm 6,4%); kim loại thường khác đạt 1,7 tỷ USD, tăng 19,8%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,6 tỷ USD, tăng 19,8%; sản phẩm hóa chất đạt 1,4 tỷ USD, tăng 22,8%; hóa chất đạt 1,3 tỷ USD, tăng 37,6%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,2 tỷ USD, tăng 30,9%.
Về thị trường nhập khẩu 4 tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 17,6 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm 2016[12]. Tiếp đến là Hàn Quốc đạt 13,7 tỷ USD, tăng 45,3%[13]; ASEAN đạt 8,9 tỷ USD, tăng 20,4%; Nhật Bản đạt 5,1 tỷ USD, tăng 16,9%; EU đạt 3,8 tỷ USD, tăng 24,3%; Hoa Kỳ đạt 3 tỷ USD, tăng 23,1%.
Cán cân thương mại thực hiện tháng Ba nhập siêu 1,1 tỷ USD. Tháng Tư ước tính nhập siêu 800 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017 nhập siêu 2,74 tỷ USD, bằng 4,5% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 8,49 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 5,75 tỷ USD.

 
 


 
Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2017 không thay đổi so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu, 7 nhóm có chỉ số giá tháng Tư tăng so với tháng trước, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 8,05% (dịch vụ y tế tăng 10,59%) do trong tháng có 14 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[14]thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế bước 2 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính (tác động làm CPI tăng khoảng 0,41%). Nhóm văn hóa, giải trí, du lịch và nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình cùng tăng 0,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm, trong đó nhóm giao thông giảm 1,38% do ảnh hưởng từ 2 đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 21/3/2017 và thời điểm 5/4/2017 (làm giá xăng, dầu giảm 3,06%), tác động làm CPI chung giảm 0,13%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,66% (lương thực tăng 0,16%; thực phẩm giảm 1,11%); nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,24%; bưu chính, viễn thông giảm 0,03%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2017 tăng 4,80% so với bình quân cùng kỳ năm 2016, thấp hơn mức bình quân 4,96 của quý I/2017. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2017 tăng 0,90% so với tháng 12/2016 và tăng 4,30% so với cùng kỳ năm trước.
Lạm phát cơ bản tháng 4/2017 tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 1,50% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 4 tháng đầu năm 2017 tăng 1,62% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.
Chỉ số giá vàng tháng 4/2017 tăng 1,01% so với tháng trước; tăng 3,01% so với tháng 12/2016 và tăng 5,74% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2017 giảm 0,28% so với tháng trước; giảm 0,02% so với tháng 12/2016 và tăng 1,58% so với cùng kỳ năm 2016.
 
Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách tháng Tư ước tính đạt 333,1 triệu lượt khách, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 15 tỷ lượt khách.km, tăng 7,2%. Tính chung 4 tháng đầu năm, vận tải hành khách đạt 1.302,9 triệu lượt khách, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước và 59,1 tỷ lượt khách.km, tăng 8,5%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 1.227,3 triệu lượt khách, tăng 9,4% và 40,1 tỷ lượt khách.km, tăng 8%; đường biển đạt 2,2 triệu lượt khách, tăng 7,7% và 110 triệu lượt khách.km, tăng 7,3%. Vận tải bằng đường hàng không đạt khá với 14,2 triệu lượt khách, tăng 10,1% và 16,7 tỷ lượt khách.km, tăng 11%. Vận tải đường sắt đạt 3,1 triệu lượt khách, giảm 9,1% và 1,2 tỷ lượt khách.km, giảm 4% so với cùng kỳ năm 2016.
Vận tải hàng hóa tháng Tư ước tính đạt 117,7 triệu tấn, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước và 22 tỷ tấn.km, tăng 8,2%. Tính chung 4 tháng, vận tải hàng hóa đạt 467,8 triệu tấn, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước và 86,4 tỷ tấn.km, tăng 6%, trong đó vận tải trong nước đạt 456,8 triệu tấn, tăng 9,3% và 42,5 tỷ tấn.km, tăng 11%; vận tải ngoài nước đạt 11 triệu tấn, tăng 0,6% và 43,9 tỷ tấn.km, tăng 1,6%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 363,8 triệu tấn, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước và 22,6 tỷ tấn.km, tăng 12,1%; đường sông đạt 79,7 triệu tấn, tăng 7,1% và 17 tỷ tấn.km, tăng 6,6%; đường biển đạt 22,4 triệu tấn, tăng 10,3% và 45,5 tỷ tấn.km, tăng 3%; đường sắt đạt 1,8 triệu tấn, tăng 3,5% và 1,1 tỷ tấn.km, tăng 7,1%.


Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Tư ước tính đạt 1.071,7 nghìn lượt người, tăng 6,5% so với tháng trước (là tháng thứ 4 liên tiếp từ đầu năm đón trên 1 triệu lượt khách), trong đó: Khách đến bằng đường hàng không tăng 8,3%; bằng đường bộ giảm 16,8%; bằng đường biển tăng mạnh, gấp 2,2 lần do đang là thời điểm thời tiết biển thuận lợi. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta tăng 34%, trong đó khách đến từ châu Á tăng 38,3%; từ châu Âu tăng 31,8%; từ châu Mỹ tăng 12,2%; từ châu Úc tăng 12,9%; từ châu Phi tăng 24,5%.
Tính chung 4 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 4.284,1 nghìn lượt người, tăng 30,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.511,5 nghìn lượt người, tăng 32,6%; đến bằng đường bộ đạt 610,8 nghìn lượt người, tăng 11,1%; đến bằng đường biển đạt 161,8 nghìn lượt người, tăng 77,6%.
Trong 4 tháng năm nay, khách đến từ châu Á đạt 3.065,2 nghìn lượt người, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 1.271,7 nghìn lượt người, tăng 61,1%; Hàn Quốc 701,8 nghìn lượt người, tăng 35,1%; Nhật Bản 261,6 nghìn lượt người, tăng 6,6%; Đài Loan 199 nghìn lượt người, tăng 22,3%; Ma-lai-xi-a 152,8 nghìn lượt người, tăng 19,6%; Thái Lan 109,2 nghìn lượt người, tăng 15,8%; Xin-ga-po 84,9 nghìn lượt người, tăng 7%.
Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 747,1 nghìn lượt người, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 230,9 nghìn lượt người, tăng 60,3%; Vương quốc Anh 106,5 nghìn lượt người, tăng 12,6%; Pháp 105,3 nghìn lượt người, tăng 12,6%; Đức 82,8 nghìn lượt người, tăng 17,6%; Thụy Điển 24,6 nghìn lượt người, tăng 24,5%; Hà Lan 23,3 nghìn lượt người, tăng 18,6%; I-ta-li-a 21,9 nghìn lượt người, tăng 16,3%.
Khách đến từ châu Mỹ đạt 315 nghìn lượt người, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 228,5 nghìn lượt người, tăng 9,1%. Khách đến từ châu Úc đạt 144,7 nghìn lượt người, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 130,3 nghìn lượt người, tăng 5,7%. Khách đến từ châu Phi đạt 12,1 nghìn lượt người, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm 2016.
Khách quốc tế đến Việt Nam
 
Một số tình hình xã hội
Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Tư, cả nước có 17,6 nghìn hộ thiếu đói, giảm 26,5% so với cùng kỳ năm 2016, tương ứng với 74,4 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 29%. Do đang trong thời kỳ giáp hạt nên số hộ cũng như nhân khẩu thiếu đói gấp 5,4 lần so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, cả nước có 93,9 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 26,1% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 386,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 26%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 13,4 nghìn tấn lương thực và khoảng 1,1 tỷ đồng, riêng tháng Tư hỗ trợ 2,1 nghìn tấn lương thực.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Trong tháng 4/2017, cả nước có 4,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 6,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (2 trường hợp tử vong); 44 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 56 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (5 trường hợp tử vong); 1 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (đã tử vong); 5 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 14 trường hợp mắc bệnh ho gà và 9 trường hợp mắc bệnh do liên cầu lợn. Tính chung 4 tháng đầu năm, cả nước có gần 10,8 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 20,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (4 trường hợp tử vong); 131 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 129 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (5 trường hợp tử vong); 11 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (1 trường hợp tử vong); 21 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 220 trường hợp mắc bệnh ho gà (5 trường hợp tử vong) và 34 trường hợp mắc bệnh do liên cầu lợn (3 trường hợp tử vong).
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/4/2017 là 216,5 nghìn người, trong đó 88,7 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 90,7 nghìn người.
Trong tháng đã xảy ra 8 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 114 người bị ngộ độc. Tính từ 18/12/2016 đến 17/4/2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 29 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 755 người bị ngộ độc, trong đó 15 trường hợp tử vong.

Tai nạn giao thông
Trong tháng (từ 16/3 đến 15/4), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.556 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 761 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 795 vụ va chạm giao thông, làm 681 người chết, 408 người bị thương và 876 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Tư giảm 5,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 1,3% và số vụ va chạm giao thông giảm 8,6%); số người chết tăng 1,8%; số người bị thương tăng 23,3% và số người bị thương nhẹ giảm 12%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 6.369 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 3.213 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 3.156 vụ va chạm giao thông, làm 2.795 người chết, 1.440 người bị thương và 3.679 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 4 tháng đầu năm nay giảm 3,9% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,5%; số vụ va chạm giao thông giảm 5,3%); số người chết giảm 2,4%; số người bị thương giảm 26,8% và số người bị thương nhẹ giảm 5,2%. Trong tổng số 3.213 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên 4 tháng vừa qua, có 3.124 vụ (chiếm 97,2%) xảy ra ở đường bộ, làm 2.722 người chết và 1.407 người bị thương; tai nạn giao thông đường sắt tiếp tục diễn biến phức tạp với 54 vụ, làm 46 người chết và 23 người bị thương; tai nạn giao thông đường thủy có 30 vụ, làm 18 người chết và 10 người bị thương.
Bình quân 1 ngày trong 4 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 26 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 12 người bị thương và 30 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai
Theo báo cáo sơ bộ, lốc xoáy kèm theo mưa to gây ngập lụt xảy ra trong tháng 4/2017 làm 2 người chết và 5 người bị thương; gần 800 ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; 1.068 ha lúa và 475 ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính 47 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm, thiên tai làm 2 người chết và 13 người bị thương; gần 4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; 4,4 nghìn ha lúa và 2,5 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại trong 4 tháng ước tính hơn 213 tỷ đồng.
Đáng lưu ý, vừa qua đã xảy ra tình trạng sạt lở đất nghiêm trọng tại xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, làm 16 ngôi nhà bị sập đổ hoàn toàn; hơn 100 hộ dân bị ảnh hưởng phải di dời đến nơi an toàn, tuyến đường liên xã bị sạt lở nghiêm trọng khiến việc lưu thông gặp nhiều khó khăn; giá trị thiệt hại ước tính khoảng 8,8 tỷ đồng. Dự báo tình hình sạt lở đất vẫn rất phức tạp, chính quyền địa phương cần theo dõi chặt chẽ diễn biến sạt lở, chủ động di dời các hộ dân ra khỏi khu vực nguy hiểm, có nguy cơ sạt lở cao để đảm bảo tuyệt đối an toàn tính mạng, hạn chế thiệt hại về tài sản.

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
Trong tháng Tư, cơ quan chức năng đã phát hiện 2.435 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 2.207 vụ với tổng số tiền phạt hơn 46,5 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, đã phát hiện 6.457 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 5.634 vụ với tổng số tiền phạt hơn 86 tỷ đồng.
Trong tháng 4/2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 394 vụ cháy, nổ, làm 7 người chết (riêng vụ cháy tại Đà Nẵng ngày 5/4 làm 3 người chết) và 18 người bị thương, thiệt hại ước tính 180 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.687 vụ cháy, nổ, làm 40 người chết và 87 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 864 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2016, số vụ cháy, nổ tăng 37,8%, số người chết gấp gần 2 lần, số người bị thương giảm 22,3% và thiệt hại ước tính tăng 36,1%./.
 
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
________________________________________
[1] Bao gồm: 785 ha đất thu hồi, giải tỏa để làm khu công nghiệp, khu đô thị mới; chuyển đổi 725 ha sang nuôi trồng thủy sản và 629 ha sang trồng cây lâu năm.
[2]Trong đó chuyển đổi 200 ha sang trồng cây lâu năm và 600 ha sang trồng cây hàng năm khác.
[3] Giá cá tra tăng 2.000 - 4.000 đồng/kg so với tháng trước.
[4] Chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2016 tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành khai khoáng giảm 1,6%; ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%.
[5] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
[6] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 19,6%; số vốn đăng ký tăng 58,1%.
[7] Cùng kỳ năm 2016, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 52,8%.
[8] Trong đó có Dự án đường ống dẫn khí lô B - Ô Môn được cấp phép ngày 20/4/2017 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,27 tỷ USD, do nhà đầu tư Nhật Bản liên doanh với PVN và PVGAS Việt Nam đầu tư tại Kiên Giang.
[9]Trong đó: Dự án SamSung Display Việt Nam điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 2,5 tỷ USD tại Bắc Ninh; Dự án nhà máy Công ty TNHH Polytex Far Eastern (Việt Nam) tại Bình Dương điều chỉnh tăng vốn đầu tư 485,8 triệu USD;
[10] Các nước ASEAN trong 4 tháng đầu năm có 87 dự án được cấp phép mới tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 672,8 triệu USD; có 39 lượt dự án điều chỉnh vốn với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 468,1 triệu USD; có 196 lượt góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư tới từ các nước ASEAN với tổng giá trị vốn góp là 422,8 triệu USD. Tính chung vốn đăng ký cấp mới, vốn tăng thêm và góp vốn mua cổ phần của các nước ASEAN vào Việt Nam 4 tháng đầu năm 2017 là 1.563,7 triệu USD.
[11] Tháng Tư năm nay có một số ngày nghỉ Lễ nên số ngày làm việc thực tế ít hơn so với tháng Ba.
[12] Nhập siêu từ thị trường Trung Quốc 4 tháng đầu năm 2017 là 9 tỷ USD, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm 2016.
[13] Nhập siêu từ thị trường Hàn Quốc 4 tháng đầu năm 2017 là 9,3 tỷ USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2016.
[14] Bao gồm: Bắc Giang, Thái Bình, Bến Tre, Cà Mau, Nam Định, Hậu Giang, Lâm Đồng, Bạc Liêu, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Bình Thuận, Kiên Giang.
 
Kinh tế- Xã hội – Thị trường
Những chính sách có hiệu lực từ tháng 4/2017
Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2017
Hướng tới ngành công nghiệp sản xuất 4.0
APEC 2017: Cơ hội vàng cho doanh nghiệp Việt Nam
Cắt giảm 85 thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế
Tình hình kinh tế - xã hội 02 tháng đầu năm 2017
STANDARD CHARTERED DỰ BÁO GDP 2017 CỦA VIỆT NAM ĐẠT 6,6%
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2017
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016
Kinh doanh gỗ toàn cầu dễ dàng hơn khi áp dụng tiêu chuẩn ISO
LIÊN KẾT WEBSITE  
THỐNG KÊ
 
Lượt truy cập: 7667321
Khách Online: 33
Đối tác
   
  Trang chủ | Giới thiệu | Hội viên | Công nghiệp Sơn - Mực In | Tin tức | Khoa học và Công nghệ | Văn bản pháp quy | Liên hệ