Ngôn ngữ:
Trang chủ » Tin tức » Kinh tế- Xã hội – Thị trường
Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2017
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Năm ước tính tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 7,8%; ngành chế biến, chế tạo tăng 11,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,2%.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc lúa đông xuân ở các địa phương phía Bắc; thu hoạch lúa, hoa màu vụ đông xuân và gieo trồng lúa hè thu ở các địa phương phía Nam. Tính đến ngày 15/5, cả nước đã gieo cấy được 3.075,8 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đã kết thúc gieo cấy với diện tích đạt 1.143,9 nghìn ha, bằng 98,9%; các địa phương phía Nam đạt 1.931,9 nghìn ha, bằng 100,3%. Diện tích lúa đông xuân ở miền Bắc giảm so với cùng kỳ năm trước do một số địa phương chuyển một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác[1]. Bên cạnh đó, có trên 1.100 ha đất ruộng bị bỏ hoang tại một số tỉnh do lao động nông thôn chuyển sang các ngành sản xuất phi nông nghiệp cho thu nhập cao hơn[2] và 670 ha đất tại Bắc Ninh bị ô nhiễm nước thải sinh hoạt, không canh tác được. Một số địa phương có diện tích lúa đông xuân giảm mạnh: Hà Nội giảm 2,6 nghìn ha; Hưng Yên giảm 1,7 nghìn ha; Hải Dương, Nam Định, Bắc Giang và Thanh Hóa cùng giảm 1,3 nghìn ha.

Hiện nay, trà lúa đông xuân sớm ở phía Bắc đang trong giai đoạn trổ bông, chín sữa. Ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân của các địa phương phía Bắc đạt 62,3 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng ước tính đạt 7,12 triệu tấn, giảm 134,5 nghìn tấn. Ở phía Nam, đến trung tuần tháng Năm các địa phương thu hoạch được 1.902,7 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 98,5% diện tích xuống giống và bằng 101,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch xong với diện tích đạt 1.539,5 nghìn ha, bằng 99%. Năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 62,6 tạ/ha, giảm 1,6 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 9,63 triệu tấn, giảm 360,9 nghìn tấn, chủ yếu do ảnh hưởng của tình trạng xâm nhập mặn từ năm trước cùng với hiện tượng mưa trái mùa liên tiếp xảy ra tại thời điểm lúa trổ bông và cho thu hoạch. Một số địa phương có sản lượng lúa đông xuân giảm nhiều so với vụ đông xuân 2016: Đồng Tháp giảm 165,8 nghìn tấn; Long An giảm 96,5 nghìn tấn; Cần Thơ giảm 59,1 nghìn tấn; Kiên Giang giảm 50,6 nghìn tấn.

Cùng với thu hoạch lúa đông xuân, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 1.169,3 nghìn ha lúa hè thu, bằng 114,4% cùng kỳ năm 2016, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.078,1 nghìn ha, bằng 114%. Lúa hè thu đang trong giai đoạn sinh trưởng và phát triển tốt, các địa phương cần tăng cường công tác kiểm tra, phòng chống sâu bệnh, hướng dẫn người dân chăm sóc lúa đúng kỹ thuật và đảm bảo lịch thời vụ.

Tính đến giữa tháng Năm, cả nước đã gieo trồng được 607,1 nghìn ha ngô, bằng 91,3% cùng kỳ năm trước; 78,6 nghìn ha khoai lang, bằng 96,6%; 142,2 nghìn ha lạc, bằng 97,6%; 40,6 nghìn ha đậu tương, bằng 96,4%; 610,2 nghìn ha rau, đậu, bằng 103,1%.

Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm không có nhiều biến động. Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm khoảng 0,5% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 1,9%; đàn gia cầm tăng 2,8%. Chăn nuôi lợn vẫn gặp nhiều khó khăn, mặc dù cơ quan chức năng thực hiện nhiều giải pháp tăng nhu cầu tiêu thụ ở thị trường trong nước nhưng giá thịt lợn vẫn ở mức thấp, người chăn nuôi tiếp tục chịu lỗ, dẫn đến tình trạng giảm đàn, bỏ đàn. Đàn lợn cả nước trong tháng ước tính giảm 2% so với cùng kỳ năm 2016. Tính đến ngày 24/5/2017, cả nước không còn dịch lợn tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch cúm gia cầm chưa qua 21 ngày còn ở Đắk Lắk.
Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 5 năm 2017

Lâm nghiệp
Trong tháng Năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 20,5 nghìn ha, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 11,2 triệu cây, tăng 0,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 878 nghìn m3, tăng 8,1%. Tính chung 5 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 77,1 nghìn ha, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 41,1 triệu cây, tăng 1,7%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3.782 nghìn m3, tăng 6,8%; sản lượng củi khai thác đạt 11,2 triệu ste, tăng 0,9%. Một số tỉnh có sản lượng gỗ khai thác 5 tháng đạt khá: Bắc Giang đạt 226 nghìn m3, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước; Phú Thọ đạt 201 nghìn m3, tăng 9,5%; Thanh Hóa đạt 206 nghìn m3, tăng 13%; Nghệ An đạt 168 nghìn m3, tăng 11,1%.

Mặc dù công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhưng tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Trong tháng Năm, cả nước có 309,5 ha rừng bị thiệt hại, giảm 62% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 72,4 ha; diện tích rừng bị chặt phá là 237,1 ha. Tính chung 5 tháng đầu năm, diện tích rừng bị thiệt hại là 747 ha, giảm 66,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 228 ha, giảm 87,8%; diện tích rừng bị chặt phá là 519 ha, tăng 32,4%.

Thủy sản
Trong tháng Năm, sản lượng thuỷ sản cả nước ước tính đạt 692 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 529,5 nghìn tấn, tăng 5,8%; tôm đạt 69,2 nghìn tấn, tăng 11,1%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 380,7 nghìn tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 298,5 nghìn tấn, tăng 5%; tôm đạt 48,3 nghìn tấn, tăng 15%.

Nuôi cá tra đang vào vụ thu hoạch nên sản lượng đạt khá, giá cá tra tiếp tục có xu hướng tăng. Sản lượng cá tra tháng Năm ước tính đạt 89,9 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 34,5 nghìn tấn, tăng 0,8%; An Giang đạt 14,9 nghìn tấn, tăng 9,9%. Nuôi tôm nước lợ gặp nhiều thuận lợi về điều kiện thời tiết và giá cả, thị trường tiêu thụ. Sản lượng tôm sú và tôm thẻ trong tháng ước tính đạt 42,8 nghìn tấn, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bạc Liêu đạt 6 nghìn tấn, tăng 2%; Sóc Trăng đạt 3,2 nghìn tấn, tăng 21%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Năm ước tính đạt 311,3 nghìn tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng khai thác biển đạt 295,3 nghìn tấn, tăng 5,4% (sản lượng cá ngừ đại dương đạt 2,1 nghìn tấn, tăng 9,1%). Tính chung 5 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản ước tính đạt 2.600,2 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1.243,1 nghìn tấn, tăng 3,1%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 1.357,1 nghìn tấn, tăng 4,3% (sản lượng khai thác biển đạt 1.285,6 nghìn tấn, tăng 4,4%).

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Năm ước tính tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 7,8%; ngành chế biến, chế tạo tăng 11,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,2%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, tuy vẫn thấp hơn mức tăng 7,4% của cùng kỳ năm 2016[3], nhưng cao hơn mức tăng 5,2% của 4 tháng đầu năm nay. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%, đóng góp 6,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,4%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 9,1%, làm giảm 2 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất
5 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 36,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,7%; dệt tăng 10,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,4%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 10,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,1%; khai thác than và sản xuất sản phẩm thuốc lá cùng tăng 0,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 12,3%.

Trong 5 tháng đầu năm, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 42,8%; sắt, thép thô tăng 29,6%; thép cán tăng 27,7%; phân u rê tăng 18,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 15,3%; sơn hóa học tăng 12,2%; sữa bột tăng 10,4%; điện sản xuất tăng 10,3%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Ô tô tăng 2,4%; than đá tăng 1,1%; thuốc lá điếu tăng 0,9%; đường kính tăng 0,7%; điện thoại di động và khí hóa lỏng (LPG) cùng giảm 0,6%; giày, dép da giảm 1,9%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 7,7%; dầu thô khai thác giảm 13,6%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 20,5%; Thái Nguyên tăng 17%; Đà Nẵng tăng 10,8%; Bình Dương và Hải Dương cùng tăng 8,1%; Đồng Nai tăng 7,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,2%; Bắc Ninh tăng 6,5%; Hà Nội tăng 5,9%; Cần Thơ tăng 3,7%; Vĩnh Phúc tăng 2,5%; Quảng Nam tăng 2,2%; Quảng Ninh tăng 2%; Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 5%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 4/2017 giảm 0,9% so với tháng trước và tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 9,3%). Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 4 tháng đầu năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 16,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 13,2%; sản xuất kim loại tăng 12,1%; sản xuất đồ uống tăng 9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 8,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 6,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,2%; sản xuất sản phẩm thuốc lá và dệt cùng tăng 0,6%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 2,8%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/5/2017 tăng 11% so với cùng thời điểm năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 8,7%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 1,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 0,3%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 0,1%; sản xuất trang phục giảm 0,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 1,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 5,6%; sản xuất thuốc lá giảm 16,3%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 43,1%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với mức tăng chung: Sản xuất kim loại tăng 82,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 69,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 50,1%; sản xuất đồ uống tăng 40,6%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (chủ yếu là xi măng) tăng 31,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 26,2%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 4 tháng đầu năm 2017 là 71,6%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 113,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) 106,7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 99,4%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5/2017 tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,1%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,6%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,8%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,1%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,1%.

Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Bắc Ninh tăng 17,7%; Vĩnh Phúc tăng 16%; Bình Dương tăng 6,4%; Hải Dương tăng 6,3%; Hải Phòng tăng 5,6%; Thái Nguyên tăng 4%; Đà Nẵng tăng 1,2%; Quảng Ninh tăng 0,9%; Cần Thơ tăng 0,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,2%; Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 8,6%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 
Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp
Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4]
Trong tháng Năm, cả nước có 10.954 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 119,2 nghìn tỷ đồng, tăng 9,3% về số doanh nghiệp và tăng 17,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,9 tỷ đồng, tăng 7,8%; tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 97,8 nghìn người, giảm 6,6%.

Trong tháng, cả nước có 1.913 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2016; có 5.332 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.577 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 3.755 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), tăng 26,8%; có 628 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 28,9%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, cả nước có 50.534 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 485,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% về số doanh nghiệp và tăng 39% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016[5]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,6 tỷ đồng, tăng 23%. Nếu tính cả 710,8 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 5 tháng đầu năm 2017 là 1.196,4 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 13.458 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 5 tháng đầu năm nay lên gần 64 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 5 tháng là 521,7 nghìn người, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2016.

Các ngành, lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới và vốn đăng ký trong 5 tháng năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước: Kinh doanh bất động sản tăng 72,8% về số doanh nghiệp và tăng 43,8% về số vốn đăng ký; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 38,9% và tăng 71,1%; giáo dục và đào tạo tăng 31,3% và tăng 97,3%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 27,3% và tăng 73,6%; sản xuất phân phối điện, nước, gas tăng 25,7% và tăng 27,9%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác tăng 20,8% và tăng 122%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 14,8% và tăng 116,9%; xây dựng tăng 12,6% và tăng 43,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,7% và tăng 40,2%; khai khoáng tăng 8,1% và tăng 73,7%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 4,8% và tăng 239,1%. Một số ngành, lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới tăng nhưng số vốn đăng ký giảm: Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 14,4% (vốn đăng ký giảm 17,8%); khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác tăng 13,6% (vốn đăng ký giảm 12,2%); thông tin và truyền thông tăng 8% (vốn đăng ký giảm 35,8%); riêng ngành vận tải, kho bãi số doanh nghiệp thành lập mới tiếp tục giảm 3,5% (số vốn đăng ký giảm 7,5%).

Trong 5 tháng năm nay, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tại các vùng đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Trung du và miền núi phía Bắc đạt 2.142 doanh nghiệp, tăng 22,8% (vốn đăng ký đạt 24,3 nghìn tỷ đồng, tăng 18,9%); Đồng bằng sông Hồng 15.517 doanh nghiệp, tăng 17,4% (vốn đăng ký 117,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2%); Tây Nguyên 1.289 doanh nghiệp, tăng 17,2% (vốn đăng ký 11,5 nghìn tỷ đồng, tăng 84,5%); Đông Nam Bộ 21.144 doanh nghiệp, tăng 11% (vốn đăng ký 240,3 nghìn tỷ đồng, tăng 50%); Đồng bằng Sông Cửu Long 3.546 doanh nghiệp, tăng 9,6% (vốn đăng ký 25,3 nghìn tỷ đồng, tăng 22,7%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 6.896 doanh nghiệp, tăng 7,9% (vốn đăng ký là 67 nghìn tỷ đồng, tăng 99,2%).

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 5 tháng đầu năm 2017 là 4.685 doanh nghiệp, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 19,5%), trong đó 4.325 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 92,3%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, có 1.888 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,3%); 1.362 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,1%); 832 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 17,7%) và 603 công ty cổ phần (chiếm 12,9%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 5 tháng đầu năm là 32.148 doanh nghiệp, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 12.884 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 19,4% và 19.264 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 8,3%.

Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 5.312 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 41,2%); 4.135 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 32,1%); 2.168 công ty cổ phần (chiếm 16,8%); 1.267 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 9,9%) và 2 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 8.314 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 43,2%); 5.660 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,4%); 3.920 công ty cổ phần (chiếm 20,3%) và 1.370 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 7,1%).
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

Đầu tư
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Năm ước tính đạt 23.049,7 tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 5.145 tỷ đồng; vốn địa phương 17.904,7 tỷ đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 88,8 nghìn tỷ đồng, bằng 30,6% kế hoạch năm và tăng 6% so với cùng kỳ năm 2016, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 19,5 nghìn tỷ đồng, bằng 29% kế hoạch năm và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 11.355 tỷ đồng, bằng 36,3% và tăng 55,4%; Bộ Y tế 1.280 tỷ đồng, bằng 24,9% và tăng 23,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1.094,3 tỷ đồng, bằng 28,6% và giảm 34,4%; Bộ Xây dựng 186,5 tỷ đồng, bằng 38,6% và giảm 37,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 164,2 tỷ đồng, bằng 29,4% và giảm 69,4%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 145,5 tỷ đồng, bằng 25,1% và giảm 17,8%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 115,1 tỷ đồng, bằng 26,3% và giảm 50,2%; Bộ Công Thương 74 tỷ đồng, bằng 30,3% và giảm 44,2%; Bộ Khoa học và Công nghệ 25,1 tỷ đồng, bằng 27,4% và giảm 63,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 23,2 tỷ đồng, bằng 25,6% và giảm 41,4%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 69,3 nghìn tỷ đồng, bằng 31,1% kế hoạch năm và tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 48,5 nghìn tỷ đồng, bằng 29,5% và tăng 4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 17,3 nghìn tỷ đồng, bằng 34,4% và tăng 12,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 3,5 nghìn tỷ đồng, bằng 41,9% và tăng 8,1%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 10,9 nghìn tỷ đồng, bằng 33,6% kế hoạch năm và tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 5.965 tỷ đồng, bằng 17,5% và tăng 2,5%; Nghệ An 2.392 tỷ đồng, bằng 37% và tăng 13,2%; Vĩnh Phúc 2.101 tỷ đồng, bằng 35% và tăng 30,1%; Bình Dương 1.832 tỷ đồng, bằng 25,6% và tăng 10,1%; Thanh Hóa 1.771 tỷ đồng, bằng 37% và tăng 5,4%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1.702 tỷ đồng, bằng 32,3% và giảm 9,9%.

Trong tháng Năm các chủ đầu tư và đơn vị thi công đã đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án; vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước cao hơn tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tình hình giải ngân và thực hiện nguồn vốn này trong 5 tháng đầu năm còn chậm. Các bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục nỗ lực tập trung thực hiện các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn, bảo đảm kế hoạch đề ra.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/5/2017 thu hút 939 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 5.595,4 triệu USD, tăng 3,5% về số dự án và giảm 26,1% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 437 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4.742,9 triệu USD.

Trong 5 tháng đầu năm 2017 có 2.061 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 1.792 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 5 tháng đầu năm đạt 12.130,3 triệu USD, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 5 tháng ước tính đạt 6,2 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 5 tháng đầu năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 2.863,4 triệu USD, chiếm 51,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành khai khoáng đạt 1.279 triệu USD, chiếm 22,8%; các ngành còn lại đạt 1.453 triệu USD, chiếm 26%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước và góp vốn, mua cổ phần thì tổng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 5 tháng đầu năm đạt 8.092,5 triệu USD, chiếm 66,7% tổng vốn đăng ký; ngành khai khoáng đạt 1.280,1 triệu USD, chiếm 10,6%; các ngành còn lại đạt 2.757,7 triệu USD, chiếm 22,7%.

Trong 5 tháng đầu năm, cả nước có 51 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Kiên Giang có số vốn đăng ký lớn nhất với 1.304,7 triệu USD, chiếm 23,3% tổng vốn đăng ký cấp mới[6]; tiếp đến là Bình Dương 919,2 triệu USD, chiếm 16,4%; thành phố Hồ Chí Minh 341,7 triệu USD, chiếm 6,1%; Tây Ninh 331 triệu USD, chiếm 5,9%; Bắc Giang 305,7 triệu USD, chiếm 5,5%; Bình Phước 282,9 triệu USD, chiếm 5,1%; Thanh Hóa 248,3 triệu USD, chiếm 4,4%; Bắc Ninh 168,4 triệu USD, chiếm 3%; Đồng Nai 159,9 triệu USD, chiếm 2,9%; Hà Nội 139 triệu USD, chiếm 2,5%; Nghệ An 122,7 triệu USD, chiếm 2,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu 117,2 triệu USD, chiếm 2,1%; Hải Dương 102,9 triệu USD, chiếm 1,8%.

Trong số 56 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 5 tháng năm nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 1.538,6 triệu USD, chiếm 27,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 1.259 triệu USD, chiếm 22,5%; Trung Quốc 756,6 triệu USD, chiếm 13,5%; Xin-ga-po 597,8 triệu USD, chiếm 10,7%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 322,4 triệu USD, chiếm 5,8%; CHLB Đức 321,7 triệu USD, chiếm 5,8%.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 1/1 - 20/5/2017

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/5/2017 ước tính đạt 416,7 nghìn tỷ đồng, bằng 34,4% dự toán năm, trong đó thu nội địa 334,9 nghìn tỷ đồng, bằng 33,8%; thu từ dầu thô 16,6 nghìn tỷ đồng, bằng 43,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 65,1 nghìn tỷ đồng, bằng 36,2%. Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 36,7 nghìn tỷ đồng, bằng 57,7% dự toán năm; thu thuế thu nhập cá nhân 33,9 nghìn tỷ đồng, bằng 41,9%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 69,5 nghìn tỷ đồng, bằng 35,8%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 64,3 nghìn tỷ đồng, bằng 32%; thu thuế bảo vệ môi trường 12,7 nghìn tỷ đồng, bằng 28%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 69,2 nghìn tỷ đồng, bằng 24,1%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/5/2017 ước tính đạt 438,5 nghìn tỷ đồng, bằng 31,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 323,8 nghìn tỷ đồng, bằng 36,1%; chi trả nợ lãi 41,5 nghìn tỷ đồng, bằng 42%; riêng chi đầu tư phát triển mới đạt 72,4 nghìn tỷ đồng, bằng 20,3% dự toán năm. Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/5/2017 ước tính đạt 77,7 nghìn tỷ đồng, bằng 47,4% dự toán năm.

Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Năm ước tính đạt 323,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 242,9 nghìn tỷ đồng, tăng 0,4% và tăng 11,2%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 38,9 nghìn tỷ đồng, giảm 2,8% và tăng 16,6%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 2,8 nghìn tỷ đồng, tăng 11,6% và tăng 4,8%; doanh thu dịch vụ khác đạt 38,9 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6% và tăng 10,1%.

Tính chung 5 tháng đầu năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.600,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,4% (cùng kỳ năm 2016 tăng 7,9%). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 5 tháng đầu năm ước tính đạt 1.203,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,2% tổng mức và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 11,1%; may mặc tăng 8,6%; phương tiện đi lại tăng 8,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,4%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 6,3%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 5 tháng đầu năm ước tính đạt 196,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,2% tổng mức và tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do lượng khách quốc tế và khách du lịch trong nước tăng khá và hoạt động ăn uống ngoài gia đình không còn chịu ảnh hưởng từ sự cố ô nhiễm môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung năm 2016. Một số địa phương có doanh thu tăng khá cao: Thanh Hóa tăng 21,4%; Bình Dương tăng 20,7%; Bình Định tăng 20,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 9,4%; Hà Nội tăng 9,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành 5 tháng ước tính đạt 13 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó biến động doanh thu của một số địa phương như sau: Thanh Hóa tăng 24,4%; Khánh Hòa tăng 21,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,1%; Hà Nội tăng 2,5%; Phú Yên giảm 27,8%; Lào Cai giảm 24%; An Giang giảm 18,9%.

Doanh thu dịch vụ khác 5 tháng đầu năm ước tính đạt 188,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 8,2% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó một số địa phương tăng khá: Thanh Hóa tăng 18%; Đà Nẵng tăng 13%; Quảng Trị tăng 10,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,4%; Hà Nội tăng 6,9%.
Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 4/2017 đạt 17.536 triệu USD, cao hơn 836 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 783 triệu USD[7]; giày dép cao hơn 112 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 86 triệu USD; hạt điều cao hơn 36 triệu USD; sắt thép cao hơn 34 triệu USD; dầu thô thấp hơn 67 triệu USD; sắn và sản phẩm của sắn thấp hơn 47 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng thấp hơn 40 triệu USD; túi xách, va li, mũ, ô dù thấp hơn 35 triệu USD; cà phê thấp hơn 34 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Năm ước tính đạt 17,2 tỷ USD, giảm 1,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,8 tỷ USD, tăng 3,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 12,4 tỷ USD, giảm 3,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Năm tăng 19,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 22%. Kim ngạch một số mặt hàng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện tăng 31,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 47,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 43,1%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 79,3 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 22,1 tỷ USD, tăng 13,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 57,2 tỷ USD, tăng 19%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 16 tỷ USD, tăng 12%; hàng dệt may đạt 9,4 tỷ USD, tăng 9%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 9,4 tỷ USD, tăng 46,2%; giày, dép đạt 5,6 tỷ USD, tăng 10,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 5,1 tỷ USD, tăng 38,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3 tỷ USD, tăng 13,2%; thủy sản đạt 2,8 tỷ USD, tăng 11,7%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,7 tỷ USD, tăng 11%; cà phê đạt 1,6 tỷ USD, tăng 13,5% (lượng giảm 14%); rau quả đạt 1,4 tỷ USD, tăng 38,6%; dầu thô đạt 1,1 tỷ USD, tăng 18,5% (lượng giảm 12%). Một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước: Hạt tiêu đạt 601 triệu USD, giảm 16,6% (lượng tăng 13%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 437 triệu USD, giảm 12,8% (lượng giảm 8,6%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 5 tháng đầu năm, Hoa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 16 tỷ USD, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là EU đạt 14,6 tỷ USD, tăng 9,5%; Trung Quốc đạt 10,5 tỷ USD, tăng 40,3%; ASEAN đạt 8,6 tỷ USD, tăng 26%; Nhật Bản đạt 6,4 tỷ USD, tăng 16,6%; Hàn Quốc đạt 5,7 tỷ USD, tăng 34,4%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 4/2017 đạt 17.350 triệu USD, thấp hơn 150 triệu USD so với số ước tính, trong đó chất dẻo thấp hơn 82 triệu USD; sắt thép thấp hơn 79 triệu USD; ô tô thấp hơn 72 triệu USD; phương tiện vận tải khác thấp hơn 34 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu thấp hơn 34 triệu USD; sản phẩm hóa chất thấp hơn 33 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 193 triệu USD; xăng dầu cao hơn 76 triệu USD; dầu thô cao hơn 57 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 35 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Năm ước tính đạt 18,0 tỷ USD, tăng 3,7% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,1 tỷ USD, tăng 8,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,9 tỷ USD, tăng 1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng Năm tăng 23,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 13,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 31,5%.

Tính chung 5 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 82,0 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 32,4 tỷ USD, tăng 18,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 49,6 tỷ USD, tăng 27,5%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 14,9 tỷ USD, tăng 38,8%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 13,3 tỷ USD, tăng 27,5%; điện thoại và linh kiện đạt 5 tỷ USD, tăng 23,4%; sắt thép đạt 4,1 tỷ USD, tăng 36% (lượng giảm 10,8%); chất dẻo đạt 2,9 tỷ USD, tăng 25,5% (lượng tăng 13,5%); kim loại thường đạt 2,2 tỷ USD, tăng 19,8% (lượng giảm 12,4%); sản phẩm chất dẻo đạt 2 tỷ USD, tăng 18,5%; sản phẩm hóa chất đạt 1,7 tỷ USD, tăng 18,1%; hóa chất đạt 1,6 tỷ USD, tăng 35,2%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,5 tỷ USD, tăng 23,8%.

Về thị trường nhập khẩu 5 tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 22 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm 2016; tiếp đến là Hàn Quốc đạt 18,6 tỷ USD, tăng 51,9%[8]; ASEAN đạt 11,1 tỷ USD, tăng 16,6%; Nhật Bản đạt 6,5 tỷ USD, tăng 15,5%; EU đạt 4,6 tỷ USD, tăng 13,9%; Hoa Kỳ đạt 3,8 tỷ USD, tăng 22%.

Cán cân thương mại thực hiện tháng Tư xuất siêu 186 triệu USD; tháng Năm ước tính nhập siêu 800 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017 nhập siêu trên 2,7 tỷ USD, bằng 3,4% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,36 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,65 tỷ USD.
Hàng hóa xuất khẩu

Hàng hóa nhập khẩu
  
Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2017 giảm 0,53% so với tháng trước.
Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có CPI tháng Năm giảm so với tháng trước, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,43% (lương thực giảm 0,06%[9]; thực phẩm giảm 2,27% do giá thịt tươi sống giảm[10], tác động làm CPI giảm 0,51%); giao thông giảm 0,34% do điều chỉnh giảm giá xăng, dầu tại thời điểm 5/5/2017 và 20/5/2017 (giá nhiên liệu giảm 0,71%, tác động làm CPI giảm 0,03%); bưu chính viễn thông giảm 0,05%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,02%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có CPI tăng nhẹ: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; giáo dục tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2017 tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2016[11]. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2017 tăng 0,37% so với tháng 12/2016 và tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 5/2017 tăng 0,08% so với tháng trước và tăng 1,33% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 5 tháng đầu năm 2017 tăng 1,56% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số giá vàng tháng 5/2017 giảm 0,10% so với tháng trước; tăng 2,91% so với tháng 12/2016 và tăng 4,12% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2017 giảm 0,03% so với tháng trước; giảm 0,05% so với tháng 12/2016 và tăng 1,66% so với cùng kỳ năm 2016.
Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ và lạm phát cơ bản tháng 5 năm 2017

Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách tháng Năm ước tính đạt 335,5 triệu lượt khách, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước và 15,2 tỷ lượt khách.km, tăng 9,1%. Tính chung 5 tháng đầu năm, vận tải hành khách đạt 1.638,5 triệu lượt khách, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước và 74,3 tỷ lượt khách.km, tăng 8,2%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 1.543,6 triệu lượt khách, tăng 9,2% và 50,4 tỷ lượt khách.km, tăng 7,7%; đường biển đạt 2,7 triệu lượt khách, tăng 8% và 138,7 triệu lượt khách.km, tăng 7,5%. Vận tải bằng đường hàng không đạt khá với 18 triệu lượt khách, tăng 10,7% và 21 tỷ lượt khách.km, tăng 10,2%. Vận tải đường sắt đạt 3,9 triệu lượt khách, giảm 6,3% và 1,5 tỷ lượt khách.km, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2016.

Vận tải hàng hóa tháng Năm ước tính đạt 118,5 triệu tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước và 22 tỷ tấn.km, tăng 6,3%. Tính chung 5 tháng, vận tải hàng hóa đạt 586,2 triệu tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước và 108,4 tỷ tấn.km, tăng 5,6%, trong đó vận tải trong nước đạt 572,5 triệu tấn, tăng 9,1% và 53,5 tỷ tấn.km, tăng 10,1%; vận tải ngoài nước đạt 13,7 triệu tấn, tăng 0,2% và 54,9 tỷ tấn.km, tăng 1,5%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 455,6 triệu tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 28,4 tỷ tấn.km, tăng 11,3%; đường sông đạt 100,1 triệu tấn, tăng 6,9% và 21,3 tỷ tấn.km, tăng 6,4%; đường biển đạt 28,1 triệu tấn, tăng 9,7% và 57 tỷ tấn.km, tăng 2,6%; đường sắt đạt 2,3 triệu tấn, tăng 4,2% và 1,4 tỷ tấn.km, tăng 8%.
Vận tải hành khách và hàng hoá

Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Năm ước tính đạt 972,8 nghìn lượt người, giảm 9,2% so với tháng trước và tăng 26,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 5.257 nghìn lượt người, tăng 29,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 4.359 nghìn lượt người, tăng 32,4%; đến bằng đường bộ đạt 730,2 nghìn lượt người, tăng 12,7%; đến bằng đường biển đạt 167,8 nghìn lượt người, tăng 43,9%.

Trong 5 tháng đầu năm nay, khách đến từ châu Á đạt 3.826,3 nghìn lượt người, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 1.572,2 nghìn lượt người, tăng 55,5%; Hàn Quốc 889,2 nghìn lượt người, tăng 40,9%; Nhật Bản 323 nghìn lượt người, tăng 7,1%; Đài Loan 247,7 nghìn lượt người, tăng 22,6%; Ma-lai-xi-a 196 nghìn lượt người, tăng 19,9%; Thái Lan 134 nghìn lượt người, tăng 11,9%; Xin-ga-po 107 nghìn lượt người, tăng 7,4%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 873,4 nghìn lượt người, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 275,4 nghìn lượt người, tăng 52,8%; Vương quốc Anh 126,4 nghìn lượt người, tăng 12,7%; Pháp 123,6 nghìn lượt người, tăng 10,1%; Đức 94,2 nghìn lượt người, tăng 17,4%; Hà Lan 27,9 nghìn lượt người, tăng 16,7%; Thụy Điển 26,2 nghìn lượt người, tăng 22,6%; I-ta-li-a 25,4 nghìn lượt người, tăng 16,1%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 370,1 nghìn lượt người, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 268,3 nghìn lượt người, tăng 9,2%. Khách đến từ châu Úc đạt 172,3 nghìn lượt người, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 154,5 nghìn lượt người, tăng 7,4%. Khách đến từ châu Phi đạt 14,9 nghìn lượt người, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2016.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Một số tình hình xã hội
Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Năm, cả nước có 45,8 nghìn hộ thiếu đói, giảm 21,6% so với cùng kỳ năm 2016, tương ứng với 187,2 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 22,7%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, cả nước có 139,7 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 25,8% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 574 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 24,9%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 16,2 nghìn tấn lương thực và khoảng 1,1 tỷ đồng, riêng tháng Năm hỗ trợ 2,8 nghìn tấn lương thực.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng 5/2017, cả nước có 4,4 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 6,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 53 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 66 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 3 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (2 trường hợp tử vong); 3 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 46 trường hợp mắc bệnh ho gà và 26 trường hợp mắc bệnh do liên cầu lợn (1 trường hợp tử vong). Tính chung 5 tháng đầu năm, cả nước có gần 15,2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 27,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (8 trường hợp tử vong); 184 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 195 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (5 trường hợp tử vong); 14 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (3 trường hợp tử vong); 24 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 266 trường hợp mắc bệnh ho gà (5 trường hợp tử vong) và 60 trường hợp mắc bệnh do liên cầu lợn (4 trường hợp tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/5/2017 là 217,5 nghìn người, trong đó 89,1 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 91 nghìn người.

Trong tháng đã xảy ra 15 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 251 người bị ngộ độc. Tính từ 18/12/2016 đến 17/5/2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 44 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 1.006 người bị ngộ độc, trong đó 16 trường hợp tử vong.

Tai nạn giao thông
Trong tháng (từ 16/4 đến 15/5), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.654 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 842 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 812 vụ va chạm giao thông, làm 701 người chết, 532 người bị thương và 937 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Năm giảm 5,4% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,1% và số vụ va chạm giao thông giảm 7,6%); số người chết giảm 3,4%; số người bị thương tăng 21,7% và số người bị thương nhẹ giảm 11,1%. Đáng chú ý là trong tháng đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng như: Vụ tai nạn giao thông đường bộ trên quốc lộ 14 đi qua thị trấn Chư Sê (Gia Lai) ngày 7/5 đã làm 13 người chết, 32 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đường sắt tại đoạn giao xã Phước Thành (Bình Định) ngày 24/4 đã làm 4 người chết và 2 người bị thương.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8.023 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 4.055 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 3.968 vụ va chạm giao thông, làm 3.496 người chết, 1.972 người bị thương và 4.616 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 5 tháng đầu năm nay giảm 4,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,6%; số vụ va chạm giao thông giảm 5,8%); số người chết giảm 2,6%; số người bị thương giảm 17,9% và số người bị thương nhẹ giảm 6,5%. Trong tổng số 4.055 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên 5 tháng vừa qua, có 3.943 vụ (chiếm 97,2%) xảy ra ở đường bộ, làm 3.405 người chết và 1.931 người bị thương; tai nạn giao thông đường sắt có 68 vụ, làm 59 người chết và 30 người bị thương; tai nạn giao thông đường thủy và hàng hải có 44 vụ, làm 32 người chết và 11 người bị thương.

Bình quân 1 ngày trong 5 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 26 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 13 người bị thương và 31 người bị thương nhẹ.

Thiệt hại do thiên tai
Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai xảy ra trong tháng Năm làm 7 người chết và 2 người bị thương; hơn 1 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; 1.140 ha lúa và gần 650 ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính khoảng 31 tỷ đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm, thiên tai làm 9 người chết và 16 người bị thương; hơn 5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; 5,5 nghìn ha lúa và 3,2 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại trong 5 tháng ước tính khoảng 248 tỷ đồng.

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 5/2017, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.487 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 1.074 vụ với tổng số tiền phạt hơn 9,5 tỷ đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm 2017, đã phát hiện 7.944 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 6.708 vụ với tổng số tiền phạt hơn 95,6 tỷ đồng.

Trong tháng Năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 348 vụ cháy, nổ, làm 4 người chết và 20 người bị thương, thiệt hại ước tính 46 tỷ đồng. Tính chung 5 tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.035 vụ cháy, nổ, làm 44 người chết và 107 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 910 tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ
__________________________________________
[1] Trong đó: Diện tích chuyển sang trồng cây hàng năm khác và cây lâu năm tại Bắc Giang là 1.431 ha; Hưng Yên 1.200 ha; Hải Dương 800 ha; Hà Nội 629 ha; Nam Định 325 ha; Thái Bình 125 ha; Hải Phòng 118 ha. Diện tích chuyển sang nuôi trồng thủy sản tại Hà Nội là 725 ha; Nam Định 195 ha; Hải Dương 149 ha. Diện tích đất thu hồi làm đường giao thông, công trình thủy lợi, trụ sở làm việc... tại Hà Nội là 785 ha; Hưng Yên 300 ha; Hải Phòng 116 ha; Nam Định 110 ha; Hải Dương 90 ha.
[2] Trong đó: Nam Định 510 ha; Hải Phòng 420 ha; Hải Dương 218 ha.
[3] 5 tháng đầu năm 2016 ngành khai khoáng giảm 2,5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,2%.
[4] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
[5] Cùng kỳ năm 2016, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 59,3%.
[6] Riêng Dự án đường ống dẫn khí lô B - Ô Môn cấp phép ngày 20/4/2017 do nhà đầu tư Nhật Bản liên doanh với PVN và PVGAS Việt Nam có tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,27 tỷ USD.
[7] Do trong tháng Tư Samsung ra mắt sản phẩm điện thoại Galaxy S8.
[8] 5 tháng đầu năm 2017, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc 11,5 tỷ USD, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm 2016; nhập siêu từ Hàn Quốc 12,9 tỷ USD, tăng 61,3%.
[9] Các tỉnh phía Bắc đang bước vào vụ thu hoạch lúa Đông Xuân, cùng với tình hình xuất khẩu gạo giảm.
[10] Trong đó: Giá thịt lợn giảm 9,94%; giá thịt gia cầm tươi sống giảm 0,99%.
[11] CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2017 tăng 4,80% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Kinh tế- Xã hội – Thị trường
Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2017
Những chính sách có hiệu lực từ tháng 4/2017
Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2017
Hướng tới ngành công nghiệp sản xuất 4.0
APEC 2017: Cơ hội vàng cho doanh nghiệp Việt Nam
Cắt giảm 85 thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế
Tình hình kinh tế - xã hội 02 tháng đầu năm 2017
STANDARD CHARTERED DỰ BÁO GDP 2017 CỦA VIỆT NAM ĐẠT 6,6%
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2017
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016
LIÊN KẾT WEBSITE  
THỐNG KÊ
 
Lượt truy cập: 7778490
Khách Online: 22
Đối tác
   
  Trang chủ | Giới thiệu | Hội viên | Công nghiệp Sơn - Mực In | Tin tức | Khoa học và Công nghệ | Văn bản pháp quy | Liên hệ